Nâng cao hiệu quả công trình vệ sinh, nước sạch trường học

Ngày 24/10, Bộ GDĐT chủ trì tổ chức Hội nghị đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, quản lý, sử dụng công trình vệ sinh, nước sạch trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông.

Tham dự Hội nghị có Thứ trưởng Bộ GDĐT Ngô Thị Minh, đại diện tổ chức UNICEF, Ngân hàng Thế giới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Y tế và hơn 200 đại biểu đến từ Sở GDĐT, trường học trong cả nước.

Gần 70% nhà (phòng) vệ sinh trường công đạt chuẩn

Báo cáo về kết quả thực hiện rà soát, đầu tư, cải tạo, xây dựng nhà vệ sinh và cung cấp nước sạch, ông Phạm Văn Sinh, Phó Cục trưởng Cục Cơ sở vật chất (Bộ GDĐT) cho biết, năm học 2019-2020, cả nước có khoảng 270.695 nhà (phòng) vệ sinh học sinh trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập.


Toàn cảnh Hội nghị đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, quản lý, sử dụng công trình vệ sinh, nước sạch trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông

Tỷ lệ nhà (phòng) vệ sinh đạt chuẩn theo quy định tại Thông tư liên tịch số 13 ngày 12/5/2016 của Bộ Y tế-Bộ GDĐT là 69,4%. Tỷ lệ nhà (phòng) vệ sinh kiên cố hoá là 77,2%. Tỷ lệ nhà (phòng) vệ sinh/ trường là 6,62 WC/trường.

Trước đó, năm học 2017-2018, tỷ lệ nhà (phòng) vệ sinh đạt chuẩn là 57.3%, tỷ lệ nhà (phòng) vệ sinh kiên cố hoá 67.4%, tỷ lệ nhà (phòng) vệ sinh/trường là 4.63 WC/trường.

Báo cáo của các địa phương cho thấy, các cơ sở giáo dục đang áp dụng một số mô hình quản lý, vận hành, bảo quản các công trình vệ sinh.

Trong đó, 42,17% cơ sở tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên quản lý, bảo quản và tự làm công tác vệ sinh.

36,86% số cơ sở bố trí nhân viên phục vụ công tác nhà vệ sinh, thù lao được trích từ nguồn kinh phí của trường hoặc thuê nhân viên phục vụ công tác nhà vệ sinh, thù lao chi trả từ nguồn kinh phí xã hội hoá.

17,76% cơ sở phối hợp với Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên tổ chức mô hình tự quản làm công tác vệ sinh.

3,21% cơ sở sử dụng các hình thức khác như thuê dịch vụ chuyên nghiệp làm vệ sinh, kinh phí ngân sách của địa phương...


Đại diện một số sở GD&ĐT trao đổi ý kiến tại Hội nghị

Đại diện Cục Cơ sở vật chất nhận định, nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên là do nhận thức của cơ sở giáo dục chưa cao, chỉ coi nhà vệ sinh là “công trình phụ”, giống như nhà vệ sinh dân dụng dẫn đến công tác tham mưu, tổ chức, quản lý sử dụng không đáp ứng nhu cầu.

Kinh phí duy trì bảo dưỡng các công trình còn hạn chế. Điều kiện cơ sở vật chất tại một số cơ sở còn nhiều khó khăn nên thiếu quan tâm đúng mức cho công trình nhà vệ sinh. Thiết kế nhà vệ sinh trong cơ sở giáo dục chưa phù hợp.

Ngoài ra, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nhà vệ sinh nhiều nhưng chưa sát thực tế.

Bên cạnh đó, ý thức bảo quản, sử dụng công trình vệ sinh, nước sạch của một số bộ phận học sinh chưa cao.

Tại Hội nghị, các đại biểu cho rằng, cần xem nhà vệ sinh trong các cơ sở giáo dục là nhà vệ sinh công cộng đặc thù vì chỉ sử dụng tại một số thời điểm nhất định trong ngày, thời lượng sử dụng ngắn. Mật độ học sinh sử dụng tại một thời điểm cao.

Các đại biểu khuyến nghị cần thực hiện lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án, đề án đã được phê duyệt, ưu tiên các hạng mục công trình: phòng học, nhà vệ sinh, công trình nước sạch; đặc biệt chú trọng các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo.

Cần đầu tư đúng mức để phục vụ học sinh

Phát biểu chỉ đạo, Thứ trưởng Ngô Thị Minh đánh giá, nhiều kết quả, mô hình hay đã được một số tỉnh, thành áp dụng nhằm nâng chất lượng các công trình vệ sinh, nước sạch trong các nhà trường.

Tuy nhiên, để đạt hiệu quả đồng đều, bền vững, các Sở cần làm tốt công tác tham mưu cho cấp trên để có thể đưa vào nghị quyết HĐND hoặc ban hành các văn bản chỉ đạo ráo riết, quyết liệt hơn của các địa phương về vấn đề này.


Thứ trưởng Ngô Thị Minh phát biểu chỉ đạo

Theo Thứ trưởng, vai trò tham mưu của ngành cho địa phương là rất quan trọng, đảm bảo tầm nhìn tổng thể cùng sự quan tâm đầu tư đúng mức từ nguồn ngân sách, vận dụng xã hội hoá.

Khi tổ chức thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả các công trình vệ sinh, nước sạch trong nhà trường, địa phương cần chú trọng số lượng đi đôi với chất lượng; quan tâm công tác kiểm tra, đánh giá.

Các giải pháp phải hướng đến đảm bảo phát triển đồng bộ, bền vững trong đầu tư cơ sở vật chất trường học, với nhận thức đúng đắn về công trình vệ sinh, nước sạch.

Thứ trưởng nhấn mạnh, “đừng nghĩ nó là "phụ" mà như một số nơi chưa có nhà vệ sinh, công trình vệ sinh đúng nghĩa phục vụ cho các em học sinh”.

Vì vậy, cần tăng cường công tác tuyên truyền với nhiều cách làm hay, giúp các bên liên quan nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công trình vệ sinh, nước sạch trong trường học.

Đặc biệt, cần nâng cao nhận thức của người đứng đầu các cơ sở giáo dục, đồng thời, đẩy mạnh nâng cao ý thức, thói quen tốt cho học sinh trong việc sử dụng, bảo quản các công trình.

Liên quan đến dự thảo về thiết kế mẫu nhà vệ sinh cho các cơ sở giáo dục, Thứ trưởng cho rằng, căn cứ tiêu chí chung, các địa phương linh hoạt xây dựng, phù hợp điều kiện của đơn vị và từng nhóm đối tượng học sinh.

Trung tâm Truyền thông giáo dục

In trang