Đánh giá kết quả hoạt động đọc hiểu văn bản Ngữ văn (Kì 3)

3. Đánh giá yêu cầu cần đạt về đọc hiểu trong Kì thi Trung học phổ thông Quốc gia

Ngữ văn là một trong những môn thi bắt buộc trong Kì thi Trung học phổ thông Quốc gia nhằm mục tiêu lấy kết quả làm một trong những căn cứ để công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và xét tuyển đại học, cao đẳng.

Từ năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định cấu trúc bài thi môn Ngữ văn theo ma trận gồm hai phần: Đọc hiểu Làm văn. Phần Đọc hiểu: đề thi đưa ra một văn bản/trích đoạn văn bản (nhật dụng/thông tin hoặc văn băn bản văn học), yêu cầu thí sinh trả lời các câu hỏi theo 4 mức độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao). Phần Làm văn gồm 2 câu hỏi: một câu yêu cầu thí sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội và một câu yêu cầu thí sinh viết bài văn nghị luận văn học.

Phần Đọc hiểu trong đề thi Trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn mấy năm gần đây thường cung cấp một ngữ liệu là văn bản/trích đoạn văn bản (văn học hoặc nhật dụng/thông tin) để thí sinh thực hiện một số yêu cầu:

- Nêu ý chính, nội dung, hình thức, bố cục văn bản, một số biện pháp nghệ thuật thể hiện trong văn bản;

- Nêu cấu trúc, thể loại, phương thức biểu đạt của văn bản;

- Hiểu nội dung, chủ đề của văn bản, quan điểm và ý định của người viết;

- Xác định các đặc điểm thuộc về phương thức thể hiện, kiểu văn bản, thể loại;

 - Giải thích ý nghĩa của nhan đề, ý nghĩa của văn bản;

- Nêu ý kiến/cách hiểu về một nội dung trong ngữ liệu;

- Nêu nhận xét về từ ngữ, cú pháp, biện pháp tu từ;

- Các phong cách ngôn ngữ;

- Các thể thơ;

- Các thao tác lập luận;

- Vận dụng kiến thức văn học, đời sống xã hội để thể hiện ý kiến riêng,...

Để đáp ứng yêu cầu trên, thí sinh phải thể hiện được khả năng đọc, nắm bắt thông tin và hiểu nội dung, hình thức thông tin: chủ đề, thao tác lập luận, phương thức biểu đạt, biện pháp tu từ; nêu nhận xét hoặc từ một ý (câu, từ, cụm từ) trong ngữ liệu để trả lời về yêu cầu liên hệ, vận dụng vào thực tiễn, thể hiện ý kiến của bản thân,...

*Ví dụ 1. Phần Đọc hiểu trong đề thi chính thức kì thi Trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017 yêu cầu:

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2. Theo tác giả, thấu cảm là gì?

Câu 3. Nhận xét về hành vi của đứa trẻ ba tuổi, cô gái có bạn bi ̣ ốm, cậu bé Bồ Đào Nha được nhắc tới trong đoạn trích.

Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với ý kiến: Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm? Vı̀ sao?”.

*Ví dụ 2. Phần Đọc hiểu trong đề thi chính thức Kì thi Trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn năm 2018 yêu cầu:

Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những yếu tố nào thuộc về tiềm lực tự nhiên của đất nước?

Câu 3. Nêu hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong đoạn trích.

Câu 4. Theo anh/chị, quan điểm của tác giả trong hai dòng thơ: "ta ca hát quá nhiều về tiềm lực/tiềm lực còn ngủ yên" có còn phù hợp với thực tiễn ngày nay không? Vì sao?

*Ví dụ 3. Phần Đọc hiểu trong đề thi chính thức Kì thi Trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn năm 2019:

Đọc đoạn trích:

Biết nói gì trước biển em ơi

Trước cái xa xanh thanh khiết không lời

Cái hào hiệp ngang tàng của gió

Cái kiên nhẫn nghìn đời sóng vỗ

Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời

Cái giản đơn sâu sắc như đời

 

Chân trời kia biển mãi gọi người đi

Bao khát vọng nửa chừng tan giữa sóng

Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng

Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm

Nhưng muôn đời vẫn những cánh buồm căng

Bay trên biển như bồ câu trên đất

Biển dư sức và người không biết mệt

Mũi thuyền lao mặt sóng lại cày bừa

Những chân trời ta vẫn mãi tìm đi.

(Trước biển – Vũ Quần Phương,

Thơ Việt Nam 1945 – 1985, NXB Văn học, 1985, tr.391)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Anh/Chị hiểu nội dung các dòng thơ sau thế nào?

Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng

Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm

Câu 3. Hãy cho biết hiệu quả của phép điệp trong các dòng thơ sau:

Cái hào hiệp ngang tàng của gió

Cái kiên nhẫn nghìn đời sóng vỗ

Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời

Cái giản đơn sâu sắc như đời

Câu 4. Hành trình theo đuổi khát vọng của con người được thể hiện trong đoạn trích gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?

Như vậy, có thể thấy:

- Ngữ liệu sử dụng cho phần đọc hiểu trong Kì thi trung học phổ thông Quốc gia là những ngữ liệu chọn lọc, đáp ứng mục tiêu giáo dục, đảm bảo có độ khó và độ dài tương đương với các văn bản trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông;

- Các nội dung đánh giá năng lực đọc hiểu đều nằm trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông được thể hiện trong một ngữ liệu mới để đánh giá năng lực của học sinh theo các mức độ nhận thức – nhất là khả năng vận dụng kiến thức đã học vào tình huống thực tiễn.

- Các câu hỏi 1, 2, 3 đều có thể thực hiện qua các câu trả lời ngắn. Câu 4 yêu cầu thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ riêng nhưng phải hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Thông qua quá trình tổ chức quá trình dạy học, những giáo viên có kinh nghiệm thường hướng dẫn học sinh tự ôn tập một cách hiệu quả phần Đọc hiểu ngay sau mỗi bài học/chủ dề dạy học bằng cách:

- Xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu theo ma trận ngay tại giờ học bài đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn;

- Lựa chọn ngữ liệu (ngoài sách giáo khoa) tương đương với bài/chủ đề đọc hiểu trong chương trình và phù hợp với đối tượng, hướng dẫn học sinh thực hành trả lời hệ thống câu hỏi theo ma trận;

- Hướng dẫn học sinh cách thức tìm kiếm thông tin trong văn bản;

- Hướng dẫn học sinh cách thức trả lời các câu hỏi theo những cấp độ tư duy khác nhau: nhận biết, thông hiểu, vận dụngvận dụng cao.

- Hướng dẫn học sinh tập trình bày lập luận, giải thích cho cách hiểu của mình;

- Hướng dẫn học sinh cách nhận xét, đánh giá về giá trị và sự tác động của văn bản đối với bản thân; cách thể hiện cảm xúc đối với những vấn đề được đặt ra trong văn bản; cách liên hệ, so sánh, mở rộng giữa các văn bản với nhau và gắn nội dung văn bản với đời sống.

Từ các ví dụ về phần Đọc hiểu trong đề thi môn Ngữ văn trong Kì thi Trung học phổ thông Quốc gia trên đây, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tự nhận diện, phân tích, so sánh đối chiếu giữa câu lệnh (yêu cầu) của từng câu trong đề bài với đáp án và hướng dẫn chấm chính thức của đề đó, từ đó rút ra kinh nghiệm trả lời cũng như lựa chọn cách thức ôn tập phù hợp nhất, hiệu quả nhất.

TS. Nguyễn Trọng Hoàn (Bộ Giáo dục và Đào tạo)