Công tác quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi ở Thanh Hóa

Thanh Hóa là tỉnh nằm ở phía Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 11106,09km2, dân số gần 4 triệu người, với 7 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn tỉnh là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Mông, Dao, Khơ Mú phân bố trên 27 huyện, thị, thành phố.

Địa hình của tỉnh Thanh Hóa đa dạng, chia làm 3 vùng rõ rệt: Vùng núi, vùng đồng bằng, vùng ven biển. Trong đó, khu vực miền núi của tỉnh bao gồm 11 huyện miền núi và 7 huyện, thị xã có xã phường miền núi với tổng số 225 xã, phường, thị trấn, trong đó có 42 xã khu vực I, 83 xã khu vực II và 100 xã khu vực III.

Với thực tế trên, tỉnh Thanh Hóa có nhiều trường tiểu học, THCS, THPT hạng 2, hạng 3 (có quy mô nhỏ). Các trường mầm non, tiểu học ở khu vực miền núi còn nhiều khu lẻ, cơ sở vật chất không bảo đảm, cho việc dạy và học. Nhiều trường thiếu quỹ đất để xây dựng trường chuẩn quốc gia, khoảng cách vị trí địa lý ở một số trường không phù hợp,... Điều này đã gây khó khăn trong việc bố trí, sắp xếp giáo viên và việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.

Để khắc phục tình trạng này, trong những năm qua, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành các Nghị quyết, Quyết định về việc quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông trên địa bàn tỉnh: Nghị quyết số 122/2015/NQ-HĐND ngày 17/7/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt Đề án sắp xếp các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trường phổ thông có nhiều cấp học hiện có tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; Quyết định số 5308/2015/QĐ-UBND ngày 16/12/2015 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc quy định quy định sắp xếp các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trường phổ thông có nhiều cấp học hiện có tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; Nghị quyết số 103/NQ-HĐND ngày 07/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt Đề án sắp xếp các trường THPT công lập hiện có trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025.

Triển khai công tác quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông trên địa bàn, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành đồng bộ các giải pháp:

Thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền đối với từng đối tượng liên quan để có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về chủ trương quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông trên địa bàn.

Xây dựng Nghị quyết chuyên đề, lộ trình cụ thể, phù hợp để tổ chức thực hiện chủ trương sắp xếp mạng lưới trường theo Nghị quyết của HĐND tỉnh. Thực hiện hiệu quả công tác phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể đối với nhiệm vụ sắp xếp các trường học trên địa bàn.

Các nhà trường đảm bảo sĩ số theo quy định, có giải pháp phù hợp thuận lợi, an toàn cho việc đi lại của học sinh khi đến trường, không để xảy ra tình trạng học sinh phải bỏ học do phải đi lại quá xa.

 Chỉ sáp nhập đối với những trường có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, thuận lợi về khoảng cách giữa các điểm trường.

 Tập trung rà soát số lượng biên chế thừa, thiếu theo cơ cấu của từng đơn vị và thực hiện việc điều chuyển nơi thừa đến nơi thiếu giáo viên theo cơ cấu; xây dựng phương án tuyển dụng bổ sung biên chế còn thiếu; quan tâm bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường sau sáp nhập.

Sau quá trình triển khai thực hiện, đến nay số trường học trên địa bàn tỉnh giảm 61 trường so với năm 2015. Cụ thể: giảm 01 trường mầm non; 52 trường tiểu học; 40 trường THCS; 6 trường THPT; tăng 34 trường TH&THCS (do sáp nhập trường tiểu học, THCS thành trường liên cấp TH&THCS) và 03 trường THCS&THPT, 01 trường THPT dân tộc nội trú. Đối với khu vực vùng dân tộc thiểu số, miền núi sau khi sắp xếp số trường học giảm 31 trường và 422 điểm lẻ: Khối mầm non tăng 04 trường (01 trường tư thục), tiểu học giảm 36 trường (9 trường sáp nhập với trường THCS thành trường TH&THCS, sáp nhập 50 trường tiểu học), TH&THCS tăng 09 trường, THCS giảm 13 trường (9 trường sáp nhập với trường tiểu học thành trường TH&THCS, 03 trường sáp nhập với trường THPT thành trường THCS&THPT, 01 trường sáp nhập), THCS&THPT, THPT tăng 05 trường. Tổng số trường học khu vực miền núi hiện nay 653 trường, trong đó khối mầm non có 204 trường, tiểu học có 215 trường, TH&THCS có 15 trường, THCS: 1189 trường (11 trường THCS Dân tộc nội trú tại 11 huyện miền núi, 25 trường PTDTBT)  và THPT: 30 trường (02 trường THPT dân tộc nội trú cấp tỉnh) và 05 trường THCS&THPT. Đến năm 2020, sau khi sắp xếp tổng số trường khu vực vùng dân tộc thiểu số, miền núi giảm còn 636 trường (Mầm non 203 trường, tiểu học 201 trường, TH&THCS 23 trường, THCS 179 trường, THCS&THPT 5 trường, THPT 25 trường).

Đối với hệ thống các trường PTDTNT, do nhiệm vụ của nhà trường không chỉ là tạo nguồn cán bộ và đảm bảo quyền lợi học tập cho học sinh dân tộc thiểu số vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà phải tạo nguồn cán bộ có chất lượng tốt cho cả các địa phương do nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi còn rất hạn chế nên trong quá trình sắp xếp vẫn phải duy trì hệ thống các các trường PTDTNT cấp THCS ở các huyện miền núi (mỗi huyện một trường PTDTNT cấp THCS). Đối với trường THPT DTNT tỉnh phải có quy mô đảm bảo thu hút được phần lớn học sinh của các trường PTDTNT huyện học chuyển tiếp lên THPT, đồng thời thu hút được học sinh ưu tú của các DTTS trên địa bàn (kể cả học sinh không học các trường PTDTNT huyện), đảm bảo học sinh có đủ điều kiện và năng lực để học tiếp lên các bậc học cao hơn nên tỉnh Thanh Hóa đã thành lập mới trường THPT DTNT Ngọc Lặc tại khu đô thị huyện Ngọc Lặc, nâng tổng số trường PTDTNT toàn tỉnh thành 13 trường (11 trường THCS DTNT cấp huyện và 02 trường THPT DTNT cấp tỉnh).

Để có được kết quả trong công tác quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông nêu trên, tỉnh Thanh Hóa rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị về cong tác quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông trên địa bàn tỉnh.

Thứ hai, việc dồn ghép điểm trường, sắp xếp lại quy mô, hệ thống trường, lớp học cần thực hiện thận trọng, hợp lý, phù hợp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Thứ ba, thực hiện tốt việc rà soát nhu cầu và kịp thời đề xuất đầu tư cơ sở vật chất cho các trường trong lộ trình thực hiện sắp xếp quy mô, mạng lưới trường, lớp, đặc biệt là các trường trong kế hoạch đạt chuẩn quốc gia, các trường phổ thông dân tộc bán trú, đảm bảo các điều kiện thiết yếu phục vụ ăn, ở, sinh hoạt cho học sinh bán trú.

Thứ tư, tích cực, chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; đẩy mạnh công tác xã hội hóa để mua sắm các trang thiết bị, cải tạo, nâng cấp, sửa chữa cơ sở vật chất hiện có nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

Tóm lại: Rà soát, sắp xếp lại mạng lưới trường, lớp học và đội ngũ giáo viên là chủ trương đúng đắn nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực, cơ sở vật chất hiện có, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Vì vậy, các cấp, các ngành liên quan cần quyết tâm, quyết liệt hơn nữa và có những giải pháp phù hợp để hoàn thành tốt các mục tiêu đã đề ra.

Vụ Giáo dục Dân tộc