Tỉnh Quảng Trị đẩy mạnh giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi

15/10/2019 In bài viết

Tỉnh Quảng Trị có 47 xã, thị trấn miền núi thì có 41 xã, thị trấn có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là người dân tộc Vân Kiều, Pa Kô tập trung chủ yếu ở hai huyện Hướng Hóa và Đakrông. Trong những năm qua, Quảng Trị đã thực hiện nhiều giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho các vùng này và thực hiện tốt chính sách đối với học sinh dân tộc thiểu số.

Thực hiện quy hoạch, phát triển mạng lưới trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú và trường phổ thông có học sinh bán trú

Hiện nay toàn tỉnh Quảng Trị có 05 trường PTDTNT với tổng 1.296 học sinh, có 06 trường PTDTBT với 2772 học sinh (trong đó có 1074 em là HS người dân tộc thiểu số) và 19 trường phổ thông có học sinh bán trú với tổng số 7.918 học sinh. Toàn tỉnh có 17 trường tiểu học có lớp ghép, trong đó có 73 lớp ghép với tổng số 799 học sinh. Ngày 20/7/2019, Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Trị đã ban hành Nghị quyết số 19/NQ-HĐND về phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú tỉnh Quảng Trị đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, với tổng kinh phí hơn 200 tỷ đồng nhằm  mục tiêu phát triển hệ thống các trường PTDTNT, PTDTBT trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu phát triển và nâng cao nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số,  huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư xây dựng các trường PTDTBT và phát triển các trường PTDTNT đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030. 

Tập trung chỉ đạo các giải pháp huy động học sinh đến trường 

Trước thực trạng học sinh bỏ học còn cao ở một số địa phương do nhiều nguyên nhân, ngành GD&ĐT xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung chỉ đạo để hạn chế tối đa việc học sinh bỏ học. Các cơ sở giáo dục đã thực hiện nhiều giải pháp để duy trì số lượng, phân công giáo viên bộ môn kèm cặp, giúp đỡ, phụ đạo cho học sinh có học lực yếu, kém; bám địa bàn, phối hợp với chính quyền, đoàn thể, phụ huynh để quản lý, giáo dục học sinh, huy động các nguồn lực đế hỗ trợ học sinh nghèo vượt qua khó khăn để được đến trường, đồng thời tuyên truyền vận động học sinh bỏ học trở lại lớp. Bên cạnh đó, sở GD&ĐT đã triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh DTTS. Nhờ vậy, năm học 2018-2019 số học sinh bỏ học đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm học trước.

Thực hiện nghiêm túc, kịp thời các chính sách của Nhà nước đối với giáo dục dân tộc, đồng thời ban hành nhiều chính sách hỗ trợ của địa phương

Bên cạnh các chính sách của Trung ương như: chính sách học bổng cho học sinh theo quy định tại Thông tư số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT; Chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn theo quy định tại Nghị định số 116/2016/NĐ-CP; Chính sách hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ mầm non theo Nghị định số 06/2018/NĐ-CP; Chính sách miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP; Chế độ đối với giáo viên theo Nghị định số 61/2006/NĐ-CP 20/06/2006 và Nghị định 116/2010/NĐ-CP;… đã được thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời. Tỉnh Quảng Trị còn ban hành thêm một số chính sách hỗ trợ của địa phương như: Nghị quyết số 31/2016/NQ-HĐND ngày 14/12/2016 của HĐND tỉnh Quy định mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục công lập năm học 2017-2018 đến năm học 2020 - 2021 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; Quyết định số 1913/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2017 của UBND tỉnh Quảng Trị về Quy định mức thu học phí đối với các cơ sở giáo dục công lập từ năm học 2017-2018 đến năm học 2020-2021 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; Nghị quyết số 07/2017/NQ-HĐND ngày 23/5/2017 của HĐND tỉnh quy định khoảng cách và địa bàn làm căn cứ xác định học sinh không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày; tỷ lệ khoán kinh phí phục vụ việc nấu ăn cho học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có tổ chức nấu ăn tập trung cho học sinh.

Các chính sách của Nhà nước đối với giáo dục dân tộc được triển khai kịp thời nên đã giải quyết được một phần khó khăn cho học sinh, hạn chế bỏ học, tọa điều kiện cho học sinh dân tộc học hết cấp học và học lên cao hơn. Các chính sách hỗ trợ cho cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng dân tộc thiểu số của tỉnh, đã góp phần giảm bớt những khó khăn về vật chất, cải thiện được cuộc sống, giúp họ yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, giáo dục dân tộc của tỉnh Quảng trị cũng còn một số khó khăn như: Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đã được đầu tư hàng năm, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng đủ nhu cầu và chuẩn quy định của Bộ GD&ĐT, đặc biệt là ở 02 huyện miền núi Đakrông, Hướng Hóa. Đội ngũ nhà giáo và nhân viên trường học còn bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Do điều kiện KT-XH của tỉnh còn nhiều khó khăn, con em vùng dân tộc thiểu số hộ nghèo và cận nghèo chiếm đa số, nên việc duy trì sự chuyên cần và sĩ số học sinh gặp khó khăn. Nhiều giáo viên không biết tiếng dân tộc, nên việc giao tiếp với học sinh con em người dân tộc còn bị hạn chế.

Các giải pháp  trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số, miền núi của Quảng Trị

Tỉnh Quảng Trị xác định ưu tiên tập trung đầu tư vốn để triển khai chương trình kiên cố hóa trường lớp và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2016 - 2020; đề xuất các chương trình, dự án giáo dục cho vùng khó khăn, miền núi nhằm tăng cường cơ sở vật chất cho vùng dân tộc thiểu số theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa và hiện đại; 

Tiếp tục củng cố, phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú theo hướng chuẩn quốc gia; tiếp tục xây dựng trường phổ thông dân tộc bán trú ở vùng dân tộc thiểu số ở huyện miền núi Hướng Hóa, Đakrông; tăng cường huy động học sinh là đồng bào dân tộc thiểu số đi học và học hết cấp học; tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng và cha mẹ học sinh trong việc tạo điều kiện cho trẻ em đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô đi học; tiếp tục triển khai thực hiện đề án “Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2016- 2020, định hướng đến 2025”; chú trọng các nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số ở bậc học tiểu học nhằm thu hút học sinh đi học, nhập học đúng độ tuổi và hoàn thành chương trình tiểu học; 

Tăng cường lồng ghép các nội dung, hoạt động giáo dục để nâng cao năng lực, kỹ năng sống và giữ gìn, bảo tồn văn hóa dân tộc cho học sinh tại các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú trên địa bàn tỉnh (đặc biệt là huyện Hướng Hóa, Đakrông); xây dựng môi trường giáo dục thấu hiểu, thân thiện đối với học sinh người dân tộc thiểu số; 

Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách đối với trẻ em, học sinh dân tộc thiểu số như miễn, giảm học phí, cấp học bổng, hỗ trợ học tập (tiền, gạo, đồ dùng học tập); duy trì chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục vùng dân tộc thiểu số; xây dựng cơ chế đặc thù, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục vùng dân tộc thiểu số; tập trung huy động các nguồn lực đầu tư và vận động, thu hút sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân để thúc đẩy phát triển giáo dục đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Vụ Giáo dục Dân tộc