Một số định hướng phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số miền núi

17/09/2019 In bài viết

Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số, miền núi (DTTS, MN) đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của của Đảng, Nhà nước thông qua các chủ trương, chính sách hỗ trợ, đầu tư phát triển

Nhờ đó, sự nghiệp giáo dục và đào tạo vùng DTTS, MN đã có những chuyển biến đáng kể: hệ thống trường, lớp học được quan tâm đầu tư xây dựng ngày càng khang trang, đảm bảo đủ điều kiện để từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Tỷ lệ học sinh (HS) đến trường tăng cao, HS lưu ban, bỏ học ngày càng giảm. Tỷ lệ HS tốt nghiệp THCS và THPT hằng năm tăng rõ rệt. Hệ thống giáo dục chuyên biệt (trường phổ thông dân tộc nội trú, trường  phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học) ngày càng phát huy hiệu quả tích cực. Chế độ cử tuyển đã góp phần đáng kể trong việc đào tạo cán bộ người DTTS có trình độ ở địa phương. Các chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, giáo viên và người học là người DTTS được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Qua đó đã khuyến khích công tác dạy và học, tạo sư bình đẳng trong giáo dục, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo vùng DTTS, MN còn một số hạn chế. Mạng lưới trường lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đã được tăng cường đầu tư, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt ở một số trường chuyên biệt vùng DTTS, MN. Chất lượng giáo dục đào tạo ở vùng DTTS, MN nhìn chung còn thấp so với yêu cầu. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục nhiều nơi còn bất cập, năng lực sư phạm, khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục của một bộ phận giáo viên còn hạn chế. Chính sách cho người dạy, người học ở vùng DTTS, MN, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vẫn còn một số bất cập,…

Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo vùng DTTS, NM,  cần có những định hướng và giải pháp cụ thể trong thời gian tới.

Về định hướng phát triển giáo dục dân tộc:

Hoàn thiện cơ cấu hệ thống và mạng lưới cơ sở giáo dục, đa dạng hoá hình thức tổ chức dạy học. Từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện linh hoạt các chương trình giáo dục phù hợp với điều kiện học tập của người học; gắn giáo dục với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội, đặc điểm văn hoá của địa phương. Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD đảm bảo đủ về số lượng, chuẩn về nghề nghiệp, hợp lí về cơ cấu. Thực hiện đầy đủ chính sách cho người dạy và người học. Tăng cường đầu tư ngân sách, cơ sở vật chất cho giáo dục dân tộc. Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục.

Về mục tiêu giáo dục dân tộc:

* Mục tiêu đến năm 2020:

Phổ cập giáo dục mầm non: Đến năm 2020, có ít nhất 25% trẻ em người DTTS trong độ tuổi nhà trẻ và 75% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non.

Phổ cập giáo dục tiểu học: Tỷ lệ trẻ em nhập học đúng độ tuổi cấp tiểu học của từng DTTS trên 94%; Tỷ lệ trẻ em hoàn thành chương trình tiểu học của từng DTTS trên 94%. Từng bước nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục.

Phổ cập giáo dục trung học cơ sở: Tỷ lệ học sinh người DTTS đi học đúng tuổi cấp trung học cơ sở 93%.

Về xóa mù chữ đối với các DTTS: Tỷ lệ người từ 15 tuổi đến 60 tuổi biết chữ của từng DTTS trên 92%. Tỷ lệ học sinh người DTTS trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương 50%.

Phấn đấu đến năm 2020, số sinh viên người DTTS (đại học, cao đẳng) đạt từ 130 đến 150 sinh viên/vạn dân (người DTTS), nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực rất thấp đạt tối thiểu 130 sinh viên/vạn dân; năm 2030 đạt từ 200 - 250 sinh viên/vạn dân;

Tỷ lệ người DTTS trong độ tuổi lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đến năm 2020 đạt trên 30%, nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp đạt tối thiểu 25%.

* Định hướng đến năm 2025:

Phổ cập giáo dục tiểu học: Tỷ lệ trẻ em nhập học đúng độ tuổi cấp tiểu học của từng DTTS trên 97%; Tỷ lệ trẻ em hoàn thành chương trình tiểu học của từng DTTS trên 97%. Duy trì ổn định chất lượng phổ cập giáo dục.

Về xóa mù chữ đối với các DTTS: Tỷ lệ người từ 15 tuổi đến 60 tuổi biết chữ của từng DTTS trên 98%. Đảm bảo xóa mù chữ bền vững.

Tăng cường bình đẳng giới trong giáo dục đối với các DTTS: Tỷ lệ mù chữ của phụ nữ của từng DTTS dưới 10%; Tỷ lệ học sinh nữ DTTS (trong tổng số học sinh DTTS) ở cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đạt 50%; Phấn đấu bình quân các chỉ tiêu tăng hoặc giảm từ 0,5 đến 1%/năm.

* Định hướng đến năm 2030:

Phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ học sinh DTTS đi học đúng tuổi gần với mức bình quân của cả nước ở tất cả các cấp học.

Phấn đấu đến năm 2030, số sinh viên người DTTS (đại học, cao đẳng) đạt từ 200 - 250 sinh viên/vạn dân.

Đào tạo sau đại học cho người DTTS, phấn đấu đến năm 2030 là 0,7% trong tổng số lao động DTTS đã qua đào tạo, ưu tiên các dân tộc chưa có người ở trình độ sau đại học.

Tỷ lệ người DTTS trong độ tuổi lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030 đạt trên 50%, nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp đạt tối thiểu trên 45%.

Để đạt được các mục tiêu trên, cần thực hiện  tối một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

Tiếp tục chỉ đạo rà soát, quy hoạch hệ thống mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục phù hợp với điều kiện của vùng DTTS, miền núi. Củng cố, phát triển hệ thống trường PTDTNT theo hướng trường chuẩn quốc gia. Mở rộng các trường PTDTBT ở các huyện nghèo. Củng cố, mở rộng các trường (khoa) dự bị đại học, nâng cao chất lượng đào tạo hệ dự bị đại học cho học sinh DTTS.

Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của các trường chuyên biệt. Thực hiện linh hoạt các chương trình giáo dục phù hợp với điều kiện học tập của người học; gắn giáo dục với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội, đặc điểm văn hoá của địa phương.

Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, CBQLGD đảm bảo đủ về số lượng, chuẩn về nghề nghiệp, hợp lí về cơ cấu, tăng cường giáo viên là người DTTS.

Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2016-2020. Đề xuất các chương trình, dự án giáo dục cho vùng khó khăn, vùng DTTS, miền núi.

Thực hiện rà soát các chính sách phát triển giáo dục và đào tạo vùng DTTS, miền núi. Từ đó đề xuất, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chính sách nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục dân tộc

Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục dân tộc và việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về giáo dục đối với đồng bào DTTS gắn với mục tiêu phát triển bền vững sau năm 2015./.

Vụ Giáo dục Dân tộc