Những vấn đề đặt ra trong việc quy hoạch, sắp xếp mạng lưới, quy mô cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ở một số tỉnh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

07/12/2017 In bài viết

Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm phát triển về mọi mặt, đặc biệt là về giáo dục đào tạo, nhằm nhanh chóng đưa vùng dân tộc thiểu số, miền núi thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, từng bước rút ngắn dần khoảng cách về mọi mặt giữa vùng dân tộc thiểu số, miền núi với các vùng khác.

Những chủ trương phát triển giáo dục dân tộc được quan tâm cụ thể ở nhiều lĩnh vực, trong đó có việc quy hoạch, sắp xếp mạng lưới, quy mô cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của học sinh; tập trung nguồn lực đầu tư, nâng cao hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước, cơ sở vật chất; là cơ sở để hiện đại hóa trường học, lớp học, chuẩn hóa trường học vùng cao; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đồng thời là căn cứ để bố trí, sắp xếp, nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên.

Thực trạng việc việc quy hoạch, sắp xếp mạng lưới, quy mô cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ở một số tỉnh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Trong thời gian qua, việc quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ở các địa phương được quan tâm, chú trọng, thể hiện ở các Nghị quyết, quyết định, đề án.

Đối với giáo dục mầm non: Hầu hết, quan điểm của các địa phương khi quy hoạch, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non là giữ điểm lẻ cho cơ sở giáo dục mầm non, không dồn điểm lẻ về trường chính, mặc dù ở các điểm lẻ phần lớn là các lớp ghép ở các nhóm tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, mầm non; nhiều điểm trường có số học sinh/lớp và học sinh/điểm trường thấp nhưng lại ở quá xa trường chính (trung bình từ 8-9 km, có nơi đến 18-20 km), bắt buộc phải duy trì các điểm trường lẻ để đảm bảo cho học sinh đi học hằng ngày; do đó số lượng các điểm trường lẻ ở các địa phương ổn định, có giảm nhưng không đáng kể. Theo số liệu thống kê trong năm học 2016 - 2017, Thanh Hóa còn 583 điểm trường; Nghệ An: 677; Hà Giang: 1.308; Yên Bái: 732; Lai Châu: 724; Điện Biên: 823; Gia Lai: 1.117; Đắk Lắk: 1.299.

Đối với giáo dục tiểu học: Hầu hết các địa phương thực hiện việc dồn điểm trường lẻ về trường chính chỉ thực hiện đối với học sinh từ các lớp 3, 4, 5; đối với các điểm trường lẻ có số lượng học sinh ít, điều kiện cơ sở vật chất còn khó khăn thì dồn hết về trường chính. Năm học 2016 -2017, tỉnh Hà Giang đã giảm 61 điểm trường lẻ; Yên Bái: 113; Nghệ An: 181; Thanh Hóa: 5. Sau khi quy hoạch, một số địa phương đã giảm số lượng điểm trường lẻ, đặc biệt là số lớp ở điểm trường lẻ. Tuy nhiên, số lượng điểm trường lẻ vẫn còn nhiều (Thanh Hóa còn 439; Nghệ An: 439; Hà Giang: 1.027; Yên Bái: 673; Lai Châu: 552; Điện Biên: 645; Gia Lai: 808; Đắk Lắk: 356).

Những thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân trong việc quy hoạch, sắp xếp mạng lưới, quy mô cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ở một số tỉnh vùng dân tộc thiểu số, miền núi trong thời gian qua

Những thuận lợi

Các cấp chính quyền địa phương đều quan tâm, chỉ đạo đối với việc thực hiện quy hoạch mạng lưới, quy mô trường lớp. Các sở, ban, ngành đoàn thể các cấp đã chủ động phối hợp và hỗ trợ tích cực cùng ngành giáo dục thực hiện việc quy hoạch. Đặc biệt sự đồng thuận của cha mẹ học sinh trong việc chuyển học sinh từ điểm trường lẻ về học tại trường chính.

Công tác tuyên truyền, xã hội hóa giáo dục ngày càng được quan tâm, chú trọng. Do đó, phần lớn phụ huynh học sinh nhận thức rõ và ủng hộ việc đưa học sinh từ điểm trường lẻ về trường chính. Nhiều địa phương đã đã huy động được nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân, cha mẹ học sinh để đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường và trang thiết bị học tập cho học sinh.

Ở một số địa phương, khi đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, đặc biệt là nơi ăn ở và các điều kiện sinh hoạt của học sinh bán trú, sau khi dồn, ghép một số điểm trường lẻ về trường chính, bước đầu đã đạt được kết quả khả quan về chất lượng học tập của học sinh. Khả năng tiếng Việt của học sinh có nhiều tiến bộ, các em mạnh dạn, tự tin hơn trong các hoạt động giao tiếp và học tập; môi trường học tập và sinh hoạt tốt hơn.

Những khó khăn, bất cập và nguyên nhân

Công tác tuyên truyền việc dồn các điểm trường lẻ về trường chính ở một số địa phương (cấp xã) làm chưa tốt, còn số lượng ít phụ huynh chưa đồng tình và ủng hộ việc đưa học sinh về trường chính để học vì trường chính xa nhà, ngại phải đưa đón hoặc không có người giúp việc trong gia đình. Nhiều phụ huynh đồng tình cho con về học ở trường chính nhưng lại trông chờ, ỉ lại và giao trách nhiệm hoàn toàn cho nhà trường, những ngày nghỉ không chịu đón học sinh về nhà, gây khó khăn cho các nhà trường trong việc quản lý học sinh, nhiều trường phải cử giáo viên, nhân viên trực ngày thứ 7, chủ nhật để quản lý và nấu ăn phục vụ học sinh.

Do việc quy hoạch dồn điểm trưởng lẻ về trường chính, số lượng học sinh ở bán trú tăng lên. Hầu hết các địa phương khi thực hiện quy hoạch dồn điểm trường lẻ về trường chính đã có khảo sát tình hình thực tế về cơ sở vật chất, các điều kiện đảm bảo chất lượng của nhà trường. Tuy nhiên, trên thực tế tại các địa phương, phần lớn các trường PTDTBT còn thiếu phòng học, phòng ở hoặc phòng học, phòng ở còn chưa đảm bảo diện tích tối thiểu, trong khi số lượng học sinh đông (có phòng ở lên tới 50 em); phòng ở còn tạm bợ, chủ yếu là nhà bán kiến cố hoặc nhà cấp 4 được xây dựng từ lâu, nay đã hư hỏng và xuống cấp, thiếu các điều kiện tối thiểu như giường ngủ cho học sinh... thiếu công trình vệ sinh, nhà tắm, nước sạch; thiếu nhà bếp, phòng ăn cho học sinh.

Khó khăn trong việc huy động học sinh, nguyên nhân là do quy hoạch dồn điểm trưởng lẻ về trường chính nên học sinh sau ngày nghỉ cuối tuần phải đến trường với khoảng cách xa, tâm lý phụ huynh ngại đưa con đi học. Do đó, việc huy động ra lớp sau ngày nghỉ cuối tuần, vào các dịp cúng mùa, cúng họ, ma chay, cưới hỏi... theo phong tục của đồng bào dân tộc là hết sức khó khăn, tỷ lệ chuyên cần chưa cao.

Khó khăn trong công tác tổ chức dạy học, quản lý học sinh, vì số lượng học sinh bán trú ở các trường chính tăng đột biến nên việc ăn, ở bán trú, công tác quản lý bán trú tại trường gặp rất nhiều khó khăn. Thiếu cán bộ, giáo viên làm công tác quản sinh. Học sinh lớp 1, lớp 2 trong diện chuyển về điểm trường chính hoặc về học bán trú chưa tự chăm sóc bản thân và các sinh hoạt cá nhân nên việc chăm sóc các em tại trường gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, một số trường PDTBT ở Trạm Tấu, Mù Cang Chải thuộc tỉnh Yên Bái nằm trên địa hình dốc, dưới có suối; do đó nguy cơ mất an toàn cao cho học sinh khi học tập và ở bán trú tại trường như hỏa hoạn, dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm, đuối nước...

Chất lượng giáo dục không đảm bảo, một trong những nguyên nhân do thiếu phòng học, các nhà trường không thể tổ chức học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của nhà trường.

Khó khăn trong việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, nguyên nhân là do dồn các điểm trường lẻ về trường chính, số lượng học sinh tăng, một số trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia nay sáp nhập phải chờ công nhận lại, trong khi đó chưa có tiêu chí công nhận trường đạt chuẩn quốc gia đối với trường liên cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở.

Những vấn đề cần quan tâm khi quy hoạch, sắp xếp mạng lưới, quy mô cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Một là, để nâng chất lượng giáo dục, tạo điều kiện cho học sinh có môi trường học tập, sinh hoạt tốt hơn. Việc quy hoạch, sắp xếp dồn các điểm lẻ về trường chính là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, việc rà soát, quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông phải căn cứ các chuẩn, quy chuẩn đảm bảo chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và có lộ trình, cụ thể, khả thi phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Hai là, công tác quy hoạch trường, lớp phải gắn với chuẩn bị cơ sở vật chất, đào tạo lại đội ngũ giáo viên, đặc biệt là gắn với chương trình giáo dục phổ thông mới. Có lộ trình sắp xếp trường, lớp hợp lý, đảm bảo chuẩn bị tốt tâm lý cho phụ huynh và học sinh. Riêng với bậc học mầm non và các lớp tiểu học đầu cấp khi sát nhập, dồn dịch các trường học phải đảm bảo trẻ được ở gần bố mẹ chứ không dồn trường một cách cơ học.

Ba là, việc dồn điểm trường, xóa điểm trường lẻ, thành lập trường phổ thông dân tộc bán trú chỉ được thực hiện khi đã đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, đặc biệt là nơi ăn ở và các điều kiện sinh hoạt của học sinh bán trú. Cần cân nhắc việc đưa học sinh các lớp đầu cấp tiểu học ở bán trú tại trường.

Bốn là, trong quá trình quy hoạch cần có những giải pháp cụ thể để bố trí, sắp xếp đội ngũ CBQL, giáo viên và nhân viên trường học dôi dư.

Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động cha mẹ trẻ em, học sinh cùng có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục học sinh, đặc biệt đối với học sinh dân tộc thiểu số.

Sáu là, vận động sự hỗ trợ của cộng đồng, người dân trong việc xây dựng cơ sở vật chất, cải tạo cảnh quan môi trường sư phạm.

Bảy là, tăng cường công tác chỉ đạo, giám sát, hướng dẫn các cơ sở giáo dục có học sinh ăn, ở bán trú có biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng tai nạn, thương tích cho học sinh.

Tám là, bố trí nguồn kinh phí, tăng cường đầu tư sơ sở vật chất cho các trường PTDTBT, đặc biệt ưu tiên cấp kinh phí hỗ trợ ăn, ở cho học sinh bán trú.

Nguyễn Tiến Phúc

(Vụ Giáo dục Dân tộc)