Tăng cường các hoạt động dạy học trên truyền hình và dạy học trực tuyến

1. Trước diễn biến phức tạp của Covid-19, nhằm mục đích giúp học sinh được học theo chương trình giáo dục phổ thông trong thời gian nghỉ học ở trường để phòng, chống Covid-19; phát triển năng lực tự học của học sinh và nâng cao kỹ năng tổ chức dạy học qua Internet, trên truyền hình của giáo viên; tăng cường mối liên hệ giữa nhà trường và gia đình trong việc tổ chức và hỗ trợ học sinh trong học tập; tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học theo hướng tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4; ngày 25/3/2020, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Nguyễn Hữu Độ đã ký Công văn số 1061/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn dạy học qua Internet, trên truyền hình đối với CSGD phổ thông, CSGD thường xuyên trong thời gian học sinh nghỉ học ở trường vì Covid-19 năm học 2019-2020 yêu cầu: trong thời gian học sinh cơ sở giáo dục phổ thông, học viên cơ sở giáo dục thường xuyên phải nghỉ học ở trường, Bộ đã yêu cầu các Sở GDĐT, Sở Giáo dục – Khoa học và Công nghệ Bạc Liêu tăng cường các hình thức dạy học qua Internet, trên truyền hình để tổ chức cho học sinh học tập, hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông năm học 2019-2020 và hướng dẫn các Sở GDĐT triển khai thực hiện cụ thể qua các hình thức dạy học qua Internet (các hình thức dạy học trong đó giáo viên sử dụng các ứng dụng hoặc dịch vụ của Internet để tổ chức hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, bao gồm: Dạy học thông qua hệ thống quản lý học tập (LMS – Learning Management System); Dạy học thông qua hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS - Learning Content Management System); Dạy học thông qua các hệ thống dạy học trực tuyến - trong đó qui định chặt chẽ vê hệ thống quản lý học tập, yêu cầu về bài học và học liệu và ổ chức hoạt động dạy học)dạy học trên truyền hình (hình thức giáo viên tổ chức và hướng dẫn học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo các bài giảng được phát trên truyền hình - trong đó quy định chặt chẽ về yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, yêu cầu về bài học và học liệu, công tác tổ chức hoạt động dạy học). Tại công văn này, Bộ GDĐT cũng quy định về đánh giá kết quả học tập (kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ và kiểm tra học kỳ) và trách nhiệms của ở GDĐT, phòng GDĐT và cơ sở giáo dục phổ thông).

2. Thực hiện các yêu cầu trên, thời gian qua, tại nhiều địa phương trên cả nước đã có những hoạt động tích cực trong việc tăng cường các hình thức tổ chức học tập, ôn tập cho học sinh. Trước hết, việc dạy học trên truyền hình đến nay đã quen thuộc, nhưng để thực hiện công việc này theo một kế hoạch/chương trình cụ thể thì cán bộ quản lý và giáo viên phải tìm hiểu việc dạy học trên truyền hình có ưu điểm và hạn chế gì (đối với giáo viên, học sinh); đồng thời cũng cần đánh giá để  thấy được hiệu quả của việc dạy học trên truyền hình, dạy học trực tuyến thời gian qua như thế nào, từ đó đề xuất giải pháp, điều kiện gì để nâng cao chất lượng dạy học?...

Về nhiệm vụ này, với vai trò và trách nhiệm của Phòng chỉ đạo chuyên môn ở Sở GDĐT, nhà giáo Đậu Quang Hồng - Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh cho biết: Điều chỉnh nội dung dạy học các môn học nói chung và môn Ngữ văn ở cấp Trung học nói riêng là sự điều chỉnh phù hợp với quá trình tổ chức thực hiện chương trình, sách giáo khoa hiện hành. Đặc biệt, điều đó lại càng có ý nghĩa thiết thực trong năm học này.

Điều quan trọng dù có giảm tải, điều chỉnh nội dung dạy học thì mục tiêu của môn học cần phải được đảm bảo; những kiến thức, kĩ năng để hình thành và phát triển phẩm chất và những năng lực cốt lõi,... theo từng cấp học phải được đáp ứng. Chính vì vậy, sẽ đặt ra vai trò, trách nhiệm cho cán bộ quản lí, giáo viên các cơ sở giáo dục: Thứ nhất, đối với các cơ sở giáo dục: Cán bộ quản lí các cơ sở giáo dục cần chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn, giáo viên xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện chương trình, nội dung hướng dẫn của Bộ và Sở. Đồng thời, tiếp tục giao quyền chủ động cho giáo viên, tổ nhóm chuyên môn rà soát, điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp với từng đối tượng và thực tiễn từng đơn vị. Các cơ sở giáo dục chỉ đạo, quản lí các tổ, nhóm chuyên môn: nghiên cứu kỹ các nội dung điều chỉnh dạy học trong học kỳ II theo hướng dẫn của Bộ; đồng thời tiếp tục thực hiện Công văn số  5842/BGDĐT-GDTrH ngày 01/9/2011 về hướng dẫn điều chỉnh nội dung giáo dục phổ thông; Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH, ngày 3/10/2017 của Bộ về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017-2018 và thực tiễn của đơn vị mình để xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với mỗi nhà trường. Thứ hai, đối với giáo viên: bên cạnh thực hiện hướng dẫn thực hiện điều chỉnh chương trình, nội dung dạy học học kì 2 năm học 2019-2020 của Bộ, giáo viên các tổ nhóm chuyên môn cần tiến hành điều chỉnh nội dung dạy học trong từng bài học cụ thể. Điều quan trọng, cần phải xác định rõ từng đối tượng học sinh ở khối/lớp mình dạy (học sinh nào khá, giỏi, trung bình, yếu, kém, kiến thức nào vẫn còn trùng lặp) để lên kế hoạch dạy học và giáo án phù hợp. Muốn vậy, giáo viên cần thực hiện tốt khâu rà soát, xác định hệ thống kiến thức, kĩ năng cơ bản, trọng tâm và hướng tới hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cốt lõi cho học sinh. Để làm sao, học sinh lớp 9, 12 nói riêng và các lớp học, cấp học trong học kì 2, năm học này nói chung được học tập trong một chương trình, nội dung tuy đã được điều chỉnh thì cũng không ảnh hưởng đến kiến thức, kĩ năng và những năng lực, phẩm chất cốt lõi của học sinh theo từng cấp học.

Bên cạnh việc thực hiện nội dung điều chỉnh trong các bài dạy học, các giáo viên cần hết sức quan tâm đến hoạt động ôn tập cho học sinh - đặc biệt là học sinh lớp 12 được chuẩn bị tốt nhất về  các điều kiện để tự tin bước vào kì thi Trung học phổ thông Quốc gia.

Từ góc độ một cán bộ quản lý cấp trường, nhà giáo Hà Xuân Nhâm - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Phan Huy Chú (Đống Đa - Hà Nội) phân tích: Khi thực hiện mô hình dạy học này, thuận lợi dễ thấy nhất là học sinh có thể học tại nhà mà không phải tập trung ở trường; giúp học sinh có được kiến thức qua hình thức học tập hiện đại và tiến bộ (ứng dụng công nghệ thông tin) gần gũi với các em; nếu bài giảng được chuẩn bị chu đáo, chuẩn mực về c-huyên môn và phương pháp thì có thể sử dụng được nhiều lần; một bài giảng online không giới hạn số lượng học sinh theo học, vì thế giáo viên có thể chia sẻ kiến thức của mình cho một số lượng lớn học sinh cùng lúc mà không bị giới hạn về thời gian và không gian học tập; có thể làm phong phú nội dung bài giảng bằng việc kết hợp cùng lúc nhiều ứng dụng công nghệ vào việc giảng dạy; nếu giảng dạy tốt, sẽ tạo được uy tín và ảnh hưởng nhanh và rộng hơn so với giáo viên offline; tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại, đảm bảo được sức khỏe và giảm bớt áp lực tâm lí khi đứng lớp thực tế; học sinh có thể chủ động trong việc tiếp thu bài học, có thể học mọi lúc, mọi nơi và có xem đi, xem lại một bài giảng; có thể chủ động lựa chọn nội dung học tập, tốc độ học tập phù hợp với năng lực và điều kiện riêng của bản thân. Đồng thời, cũng có thể thấy những khó khăn, đó là: khi thầy cô không trực tiếp ở bên để khích lệ và tương tác thì khó có thể cảm nhận cảm xúc phản hồi của học sinh qua ánh mắt, thái độ tức thời để điều chỉnh nội dung cũng như cách dạy như khi học trực tiếp; giáo viên chuẩn bị một bài giảng trực tuyến mất nhiều thời gian, đòi hỏi sự đầu tư công phu; đòi hỏi giáo viên phải biết sử dụng và khai thác tốt các thiết công nghệ cần thiết cho việc dạy học; không được tương tác với học sinh nên sẽ có sự hạn chế về cộng hưởng cảm xúc khi dạy học; đồng thời, đòi hỏi học sinh phải thực sự tự giác và chủ động, có sự chuẩn bị trước về mặt tâm thế và kiến thức trước khi nghe thầy cô giảng dạy; không thể phản hồi và được giải đáp tức thời như học tập trên lớp và khó tổ chức thảo luận nhóm trực tiếp...

Do vậy, để dạy học trực tuyến hiệu quả, cần luôn thay đổi cách thức tổ chức để học sinh không bị nhàm chán: khi đưa đến cho học sinh đường link để có thể xem clip tài liệu, bài giảng e-learning, khi thì “tập trung” dạy học online trong một khung giờ (ví dụ như ứng dụng microsoft team). Khi giao bài tập, thầy, cô cần yêu cầu học sinh tương tác để có thể kiểm tra quá trình và kết quả hoạt động của học sinh. Khi cả lớp cùng học với thầy cô trong microsoft team, cần khuyến khích mỗi cá nhân phát biểu và được đánh giá điểm xứng đáng với ý kiến xây dựng bài trực tuyến. Cần lưu ý, khi dạy theo hình thức này, GV “điểm danh” bằng bất ngờ gọi tên học trò đang có đèn báo online để hỏi về bài, qua đó xem học sinh thực “có mặt” và thực để tâm với bài học không? Thầy cô có kinh nghiệm dạy online luôn yêu cầu học sinh chụp và nộp ngay trang vở mình vừa học liền ngay sau tiết học. Nếu học sinh không tập trung chú ý thì không có “sản phẩm” để nộp được. Thầy/cô cũng có thể yêu cầu học sinh chụp hình ảnh bài làm gửi ở phần bình luận của facebook (ngay dưới nội dung được giao) hoặc yêu cầu học sinh nộp bài theo đường link trả lời biểu mẫu trên office 365 hay đường link lập tệp nộp bài trong microsoft team. Việc giao bài thường diễn ra trong một group bao gồm các thành viên của một lớp trên zalo hay facebook hoặc microsoft team, nên các thầy/cô cần chú ý việc tương tự của các đồng nghiệp với lớp, tránh các môn cùng dạy online, cùng yêu cầu nộp bài trùng thời gian khiến học sinh bị quá tải và “bí” thời gian tuân thủ.

Từ bình diện tổ chức thực hiện, nhà giáo Hồ Tấn Nguyên Minh - Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh - Phú Yên đề xuất: Thực tế trong thời gian vừa qua, nhiều đài truyền hình của các địa phương trong nước đã tổ chức dạy học, đem lại những hiệu quả nhất định giúp học sinh có cơ hội được cọ xát, được học tập, tránh sức ì khi nghỉ quá nhiều. Nên chăng, Bộ GDĐT và Đài truyền hình VTV cần chủ động hơn để chất lượng giảng dạy tốt hơn, giúp việc học trên truyền hình lan tỏa rộng hơn ở phạm vi toàn quốc. Theo tôi, để có thể bao quát được chương trình từ lớp 1 đến lớp 12 trong điều kiện học sinh không thể đến trường thì Đài truyền hình quốc gia nên phối hợp với Bộ GDĐT phân công cho mỗi đài tỉnh phụ trách một phần trong chương trình của một lớp/hoặc một lĩnh vực, từ đó phát sóng trên cả nước thì mới tạo được cơ hội học tập đồng bộ cho học sinh cả nước.

Muốn dạy học trực tuyến hiệu quả, theo tôi đường truyền internet phải mạnh, cả thầy và trò cần phải được trang bị một nền tảng công nghệ thông tin vững chắc để có thể sử dụng linh hoạt, hiệu quả những công cụ hỗ trợ. Điều quan trọng có vai trò quyết định là các cấp quản lý giáo dục cần có kế hoạch, định hướng, hướng dẫn cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả việc điều chỉnh nội dung các môn học mà Bộ GDĐT vừa chỉ đạo. Để học sinh tự học có hiệu quả, thầy cô giáo nên hướng dẫn học sinh bằng cách cho những câu hỏi, những bài tập tự học liên quan đến bài đó, yêu cầu học sinh trên cơ sở tự tìm hiểu, tự nghiên cứu ở nhà để trả lời. Qua việc hỗ trợ, hướng dẫn và kiểm tra bài làm, giáo viên sẽ biết được ý thức và khả năng tự học của học sinh. Bên cạnh đó, cũng có thể tăng cường thực hiện việc dạy học theo chuyên đề/chủ đề mà tất các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên đã được tập huấn, vừa giảm bớt thời gian giảng dạy mà vẫn đảm bảo giúp học sinh nắm sâu những kiến thức trọng tâm.

3. Dạy học trên truyền thình và dạy học trực tuyến là cách đào tạo từng khẳng định nhiều thành tựu ở những nước tiên tiến từ rất lâu, và nhiều quốc gia vẫn đang xem là mô hình đào tạo có nhiều triển vọng. Ở Việt Nam, điều này khá mới mẻ, nhưng qua thực tiễn thời gian qua, hình thức đào tạo này bước đầu đã thu hút được sự quan tâm đáng kể của không ít các nhà giáo và học sinh. Thiết nghĩ: sự bỡ ngỡ ban đầu - thậm chí còn là sự dụt dè, cẩn trọng thăm dò nữa, không hẳn là chỉ báo về năng lực mặt công nghệ, mà có khí, còn là về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nữa, khi ít nhiều còn chưa "kết nối được" giữa cách thức và con đường, giữa mục tiêu và mục đích. Tất nhiên, đó mới chỉ là ý nghĩ của cá nhân người viết.

*TS. Nguyễn Trọng Hoàn (PVT Vụ Giáo dục Trung học)