Đánh giá kết quả hoạt động viết - môn Ngữ văn (Kì 3)

5.2. Thực hiện viết bài văn nghị luận văn học

Yêu cầu chung:

- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận văn học.

- Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; thể hiện năng lực cảm thụ văn học tốt; lập luận luận chặt chẽ, thuyết phục, diễn đạt mạch lạc; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

- Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận.

Theo đó, thí sinh cần nêu được quan điểm riêng, rõ ràng, thể hiện sự hiểu biết sâu sắc, toàn diện về vấn đề mà đề bài yêu cầu; lấy được dẫn chứng từ tác phẩm một cách chính xác và phù hợp; nêu được giá trị của các phương tiện nghệ thuật mà tác giả sử dụng; diễn đạt mạch lạc và có cảm xúc…; Bài viết không chỉ thể hiện được ý cần diễn đạt, mà cần thể hiện được nội dung và hình thức trình bày đảm bảo các tiêu chí:

- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. (Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân).

- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận, thể hiện sự đánh giá/thái độ/quan điểm của bản thân và những người xung quanh.

- Biết chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; (đối với bài nghị luận xã hội cần dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động).

- Sáng tạo: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…); thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

- Chính tả, dùng từ, đặt câu: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

*Ví dụ 1. Câu hỏi nghị luận văn học trong đề thi Trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017:

“Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"

Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"

Thời gian đằng đẵng

Không gian mệnh mông

Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Hàng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.

(Trích Đất nước, trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.118-119)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, bình luận quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm”.

Với câu hỏi này, thí sinh cần thể hiện được năng lực cảm nhận đoạn thơ và bình luận quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, với các yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài giới thiêụ được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cảm nhận đoạn thơ và bình luận quan niệm về đất nước.

c) Triển khai vấn đề nghị luận: Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, đoan trích;

Cảm nhận đoạn thơ: Thí sinh có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau:

- Về nội dung: Đoạn trích thể hiện cảm xúc, suy tư và là sự cắt nghıã khái niệm đất nước của tác giả từ nhiều phương diện.

+ Địa lí: không gian đất nước rộng lớn, mênh mông mà gần gũi, thân quen; thiêng liêng mà bình dị; là nơi sinh tồn của bao thế hê,̣...

+ Lịch sử: gắn với cội nguồn, sự tiếp nối của các thế hê ̣ từ quá khứ đến hiện tai và tương lai, làm nên đất nước trường tồn,...

+ Văn hóa: gắn với những quan niêm, ̣ phong tục, tập quán,... kết tinh vẻ đẹp tâm hồn nhân dân.

- Về nghệ thuật: Đoạn trích sử dụng hiệu quả, sáng tạo thể thơ tự do, chất liêu ̣ văn hóa và văn hoc dân gian; kết hợp hài hòa giữa chất trữ tı̀nh và chı́nh luận; cách cắt nghĩa khái niệm Đất Nước theo lối chiết tự,...

Bình luận quan niệm về đất nước: Thí sinh cần bình luận hợp lí, thuyết phục. Có thể theo hướng sau:

- Nguyễn Khoa Điềm quan niệm đất nước là sự tổng hợp, thống nhất các phương diện lịch sử, địa lí và văn hóa trong mối liên hệ gắn bó với đời sống nhân dân. Điều đó góp phần thể hiện tư tưởng cốt lõi của đoạn trích Đất Nước - tư tưởng Đất Nước của Nhân dân.

- Đây là quan niệm mới mẻ, sâu sắc, tiêu biểu cho quan niệm về đất nước trong văn học Cách mạng giai đoạn 1945-1975; góp phần thức tı̉nh tinh thần dân tộc ở thế hê trẻ đô thi vùng ng tạm chiếm miền Nam thời chống Mı̃; khơi gợi tình yêu, trách nhiệm với đất nước của tuổi trẻ ngày nay.

d) Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp Tiếng Việt.

e) Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

*Ví dụ 2. Câu hỏi nghị luận văn học trong đề thi Trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn năm 2018:

“Phân tích sự đối lập giữa vẻ đẹp của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa và cảnh bạo lực ở gia đình hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu)1. Từ đó, anh/chị hãy liên hệ với sự đối lập giữa cảnh phố huyện lúc đêm khuya và hình ảnh đoàn tàu (Hai đứa trẻ - Thạch Lam) để nhận xét về cách nhìn hiện thực của hai tác giả.”

Với yêu cầu này, thí sinh cần đáp ứng được:

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Sự đối lập giữa vẻ đẹp của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa và cảnh bạo lực ở gia đình hàng chài; liên hệ với sự đối lập giữa cảnh phố huyện lúc đêm khuya và hình ảnh đoàn tàu; nhận xét về cách nhìn hiện thực của hai tác giả.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:

Liên hệ với sự đối lập giữa cảnh phố huyện lúc đêm khuya và hình ảnh đoàn tàu:

- Sự đối lập giữa ánh sáng lấp lánh và bóng tối dày đặc; giữa âm thanh vang động và không khí tịch mịch; giữa hành khách trên tàu sang trọng, ồn ào và người dân phố huyện nghèo khổ, âm thầm.

- Ý nghĩa của sự đối lập: thể hiện khát vọng đổi đời của con người trong hiện thực tăm tối, tù đọng; cái nhìn vừa cảm thương vừa trân trọng của Thạch Lam đối với cuộc sống bế tắc và mơ ước xa xôi của những kiếp người nhỏ bé.

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

*Ví dụ 3. Câu hỏi nghị luận văn học trong đề thi Trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn năm 2019:

Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng.*Ví dụ 3. Câu hỏi nghị luận văn học trong đề thi Trung học phổ thông Quốc gia môn Ngữ văn năm 2019:

(Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB giáo dục Việt Nam, 2018, tr.198)

Cảm nhận của anh/chị về hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Với câu hỏi trên, thí sinh cần đạt được:

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

- Mở bài nêu được vấn đề

- Thân bài triển khai được vấn đề

- Kết bài khái quát được vấn đề

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

- Hình tượng sông Hương và cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

- Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” và đoạn trích.

Cảm nhận hình tượng sông Hương:

- Hình tượng sông Hương có vẻ đẹp phong phú:

+ Sông Hương khi chảy giữa lòng Trường Sơn mang vẻ đẹp hoang dại, mãnh liệt, đầy cá tính: bản trường ca của rừng già vừa rầm rộ, mãnh liệt vừa dịu dàng, say đắm; cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại, bản lĩnh gan dạ, tâm hồn tự do và trong sáng.

+ Sông Hương khi ra khỏi rừng mang vẻ đẹp đằm thắm, sâu lắng của người mẹ: sắc đẹp dịu dàng trí tuệ; người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.

- Hình tượng sông Hương được thể hiện bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu chất thơ; lối hành văn hướng nội, mê đắm, tài hoa; nghệ thuật so sánh, nhân hóa tạo những liên tưởng độc đáo, thú vị.

*Nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

- Nhà văn nhìn sông Hương không chỉ như một dòng chảy tự nhiên mà còn như một con người với vẻ đẹp tâm hồn sâu thẳm, đầy nữ tính; không chỉ khám phá hành trình đầy biến hóa mà còn khẳng định vai trò sinh thành văn hóa Huế của dòng sông.

- Cách nhìn độc đáo, mang tính phát hiện về dòng sông cho thấy vốn hiểu biết uyên bác, tình yêu quê hương sâu nặng, phong cách kí đậm chất trí tuệ và trữ tình của nhà văn.

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Trở lên, có thể thấy đề thi Trung học phổ thông Quốc gia được cấu trúc một cách chặt chẽ về logic, theo đó, mạch năng lực cần đánh giá kết quả giáo dục Ngữ văn thông qua phần Đọc hiểu (trả lời bằng viết câu) và phần Làm văn (tạo lập văn bản: viết đoạn văn - câu nghị luận xã hội, và viết bài văn - câu nghị luận văn học).

 Từ các ví dụ, giáo viên có thể phân tích, so sánh đối chiếu giữa câu lệnh (yêu cầu) của từng đề bài với đáp án và hướng dẫn chấm của đề đó để giúp học sinh tự rút ra kinh nghiệm trả lời cũng như lựa chọn cách thức ôn tập phù hợp và hiệu quả nhất.

Đánh giá hoạt động viết thông qua yêu cầu học sinh tạo lập các kiểu văn bản và việc đánh giá kĩ năng viết thường dựa vào các tiêu chí chủ yếu như nội dung, kết cấu bài viết, khả năng biểu đạt và lập luận, hình thức ngôn ngữ và trình bày,... Căn cứ cấu trúc và các yêu cầu của đề bài, các nhà giáo có kinh nghiệm thường hướng dẫn, hỗ trợ học sinh ngay trong quá trình dạy học, từ việc đặc câu, viết đoạn đến các cách tạo lập bài văn hoàn chỉnh. Có thể hướng dẫn học sinh thực hiện các bước:

- Đọc, tìm hiểu kĩ đề bài:

+ Xác định vấn đề cần trình bày;

+ Xác định kiểu văn bản cần tạo lập;

+ Xác định phạm vi tư liệu cần huy động;

- Xác định phạm vi vấn đề:

+ Liệt kê các ý chính, ý phụ để triển khai vấn đề;

+ Sắp xếp các ý theo hệ thống logic, phù hợp;

+ Liệt kê những thông tin (dẫn chứng) có liên quan đến vấn đề;

+ Lựa chọn những thông tin ưu tiên có tính tiêu biểu, phù hợp;

+ Phân tích những thông tin để làm sáng tỏ các khía cạnh của vấn đề;

- Lập dàn ý:

+ Xây dựng khung dàn ý theo kiểu bài;

+ Tìm hệ thống ý phù hợp với đề bài;

+ Lựa chọn cách thể hiện suy nghĩ của bản thân về vấn đề đặt ra;

- Viết bài văn theo yêu cầu của đề bài.

- Đọc, kiểm tra kết quả viết và sửa chữa (nếu có).

Muốn đạt được kết quả cao, học sinh không chỉ nắm chắc các kiến thức, kĩ năng đọc hiểu và làm văn nghị luận đã học mà còn phải biết vận dụng hợp lí và sáng tạo kiến thức, kĩ năng ấy vào giải quyết những tình huống của cuộc sống (những vấn đề thời sự của quê hương đất nước và quốc tế). Đồng thời, bên cạnh việc nắm chắc kiến thức trong chương trình giáo dục phổ thông, học sinh cần tích cực đọc những tài liệu mở rộng liên quan ngoài sách giáo khoa, lấy đó làm ngữ liệu để thực hành, rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức đọc hiểu và làm văn đã học vào thực tiễn; tích cực luyện tập thực hành viết câu văn, đoạn văn, bài văn thể hiện những khám phá và phát hiện riêng, thể hiện lập luận chặt chẽ, có tính thuyết phục cao.

Có thể nói trong những năm gần đây, đề thi môn Ngữ văn nói riêng và Đề thi Trung học phổ thông quốc gia các môn nói chung - với xu thế tăng cường các câu hỏi mở, yêu cầu vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào đáp ứng các nhu cầu của tình huống thực tiễn - đã góp phần thúc đẩy tích cực cho việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, nhằm đánh giá một cách khoa học, khách quan về năng lực và phẩm chất của người học.

TS. Nguyễn Trọng Hoàn (Bộ Giáo dục và Đào tạo)