Nguồn nhân lực xuyên biên giới: Bắt đầu từ chuẩn chương trình đào tạo

Một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hội nhập giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới ngày nay là sự công nhận lẫn nhau về trình độ, chất lượng nguồn nhân lực. Khái niệm “nguồn nhân lực xuyên biên giới” sẽ trở thành một nhu cầu tất yếu của nền kinh tế toàn cầu. Theo đó, yêu cầu cấp thiết là xây dựng chuẩn chương trình đào tạo (CTĐT), giúp các trường nâng cao năng lực cạnh tranh trong đào tạo nguồn nhân lực xuyên biên giới.

Chuẩn đầu ra đáp ứng yêu cầu nhà tuyển dụng

Trong 4 ngày (15-18/6), Vụ Giáo dục Đại học (GDDH), Bộ GDĐT đã tổ chức 4 buổi tọa đàm, nhằm chuẩn bị xây dựng chuẩn CTĐT với các trình độ của GDĐH tại Hà Nội và TP HCM.

Thông qua thảo luận nhóm, các chuyên gia, nhà khoa học và các cán bộ quản lý, giảng viên đến từ các cơ sở GDĐH trong nước và quốc tế đã cùng trao đổi, đóng góp kinh nghiệm, đề xuất ban đầu để chuẩn bị xây dựng chuẩn CTĐT cho 10 nhóm ngành phổ biến.

Bao gồm: Máy tính và công nghệ thông tin; Nông, lâm nghiệp và thủy sản, Sản xuất và chế biến, Thú y; Kiến trúc và xây dựng; Công nghệ kỹ thuật, Kỹ thuật; Môi trường và bảo vệ môi trường, Dịch vụ vận tải; Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên; Nhân văn, Khoa học xã hội và hành vi; Báo chí và thông tin, Pháp luật; Kinh doanh và quản lý; Khoa học sự sống, Khoa học tự nhiên, Toán và thống kê.

Trao đổi tại tọa đàm, Quyền Vụ trưởng Vụ GDĐH, Bộ GDĐT Nguyễn Thu Thủy chia sẻ: “Để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của đơn vị sử dụng lao động, chuẩn CTĐT sẽ được thiết kế, xây dựng bởi hội đồng tư vấn bao gồm các bên liên quan như chuyên gia, đại diện hiệp hội nghề nghiệp, đơn vị sử dụng lao động...”.

Bà Thủy lý giải, bài toán đào tạo nguồn nhân lực ngày nay đặt ra yêu cầu bắt buộc là phải hội nhập để nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng và tồn tại, để sinh viên ra trường có thể tìm kiếm cơ hội việc làm ở trong nước và khu vực.

Bà Nguyễn Thu Thủy, Quyền Vụ trưởng Vụ GD Đại học phát biểu tại Tọa đàm

Để giải bài toán này, các cơ sở GDĐH cần làm tốt công tác xây dựng, thực hiện và đánh giá CTĐT. Từ đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực mới có thể hội nhập với các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước trong ASEAN. Đồng thời, Nhà nước cần có chính sách vĩ mô, giúp các cơ sở GDĐH có căn cứ để xây dựng các CTĐT mới. Đó chính là “chuẩn chương trình đào tạo” và việc thực hiện khung trình độ quốc gia (Vietnamese Qualifications Framework - VQF). Cuối cùng, nhà trường cần làm tốt công tác đảm bảo chất lượng bên trong và bên ngoài ở cấp độ chương trình và gắn với chuẩn chương trình.

VQF quy định chuẩn đầu ra tối thiểu cho 1 trình độ (ĐH, THs, TS), đòi hỏi tất cả ngành học cùng trình độ đều phải đạt được. Việc phát triển CTĐT vừa phải đáp ứng các chuẩn đầu ra đối với từng trình độ, vừa phải đáp ứng chuẩn đầu ra tối thiểu đối với từng ngành/nhóm ngành ở một trình độ cụ thể của GDĐH. Như vậy, để thực hiện VQF, GDĐH Việt Nam phải xây dựng chuẩn CTĐT cho từng ngành/nhóm ngành cụ thể, làm cơ sở để các trường phát triển CTĐT của riêng mình.

Nếu thiếu chuẩn CTĐT với những yêu cầu tối thiểu đối với 1 CTĐT, bằng cấp của GDĐH Việt Nam khó có thể được quốc tế công nhận. Do đó, nhiệm vụ xây dựng chuẩn CTĐT và không ngừng nâng chuẩn để nâng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam là trách nhiệm đặt ra cho nhiều bên liên quan. Bao gồm, cơ quan quản lý nhà nước (Bộ GDĐT, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tài chính); các cơ sở đào tạo, phối hợp với các hiệp hội ngành nghề, nhà sử dụng lao động.

“Quy trình xây dựng CTĐT bắt đầu từ việc xây dựng chuẩn đầu ra. Chuẩn CTĐT có phù hợp hay không và xây dựng như thế nào do chính hội đồng tư vấn, bao gồm các bên liên quan đóng góp, hoàn thiện”, Quyền Vụ trưởng Vụ GDĐH nhấn mạnh.

Đại học tự chủ chứ không tự trị

Nhiều ý kiến góp ý cho Dự thảo thông tư ban hành Chuẩn chương trình đào tạo đối với các trình độ của GDĐH đã được ghi nhận qua các buổi tọa đàm.

Phát biểu tại tọa đàm, TS Lê Viết Khuyến, Trưởng ban Hỗ trợ chất lượng đại học, Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, phân tích: Hiện nay, các cơ sở GDĐH đã được tự chủ trong việc xây dựng, thực hiện và đánh giá CTĐT. Tuy nhiên, tự chủ trong khuôn khổ pháp lý chứ không phải “muốn làm gì thì làm”.

“Phương thức quản lý theo kiểu cầm tay chỉ việc phải xóa bỏ. Quản lý nhà nước cần thể hiện qua các văn bản, chuẩn chương trình, trên cơ sở chuẩn tối thiểu đó thì mới công nhận triển khai tự chủ cho các trường. Nên nhớ, đại học tự chủ chứ không “tự trị”, TS Lê Viết Khuyến khẳng định.

TS lưu ý thêm, các chuẩn chương trình không phải do Nhà nuớc hay chuyên viên, lãnh đạo nào của Bộ GDĐT đưa ra rồi phê duyệt, ban hành, mà chính các trường đại học sẽ tham gia cho ý kiến, chỉnh sửa, đề xuất, vì quyền lợi của chính mình và người học.

Đánh giá cao tầm quan trọng của việc phải xây dựng chuẩn CTĐT, ông Nguyễn Đào Tùng, Phó Giám đốc Học viện Tài chính đã đưa ra một số đề xuất, góp ý hoàn thiện dự thảo Thông tư.

Trong đó, đại diện Học viện Tài chính nhấn mạnh, cần thống nhất khung CTĐT cho từng trình độ. “Xây dựng chuẩn CTĐT nào, cần có ý kiến của hiệp hội nghề nghiệp trong nước và quốc tế của lĩnh vực ngành/ nhóm ngành đó. Đồng thời, nên có website riêng để truyền thông, giúp các trường nắm bắt tiến độ, thông tin về công tác quan trọng này; kết hợp với chuyển giao, đào tạo cho các trường”, ông Tùng đề xuất.

 

Bà Nguyễn Thị Quế Anh, Chủ nhiệm Khoa Luật, ĐHQGHN

Bà Nguyễn Thị Quế Anh, Chủ nhiệm Khoa Luật, ĐHQGHN đánh giá, dự thảo Thông tư đầy đủ, toàn diện, có đánh giá tác động, đáp ứng mong muốn của các cơ sở đào tạo.

Chuẩn CTĐT sẽ giúp xóa bỏ được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh khi một số cơ sở/CTĐT chưa đạt chuẩn vẫn có chỉ tiêu tuyển sinh. “Rất cần hệ tiêu chuẩn tối thiểu để soi chiếu, xác định tính minh bạch và trách nhiệm xã hội của các cơ sở đào tạo”, Chủ nhiệm Khoa Luật, ĐHQGHN khẳng định.

Bà Quế Anh cho biết thêm, hiện nay, Việt Nam có khoảng 80 cơ sở đào tạo luật. Mạng lưới trường đại học đào tạo ngành luật đang được gây dựng, kết nối và sẽ chú trọng đến vấn đề chuẩn CTĐT trong các sinh hoạt chuyên môn.

Liên quan đến chuẩn đầu ra, bà Quế Anh góp ý, không nên xác định quá nhiều chuẩn đầu ra, chỉ cần tập trung vào một số nhóm chuẩn tối thiểu như kiến thức, kỹ năng, thái độ,…

Đại diện ngành Luật cũng cho rằng, những đơn vị cá nhân liên quan tham gia xây dựng chuẩn CTĐT phải tương thích với vị trí việc làm, chuẩn đầu ra của ngành/nhóm ngành đó. Đồng thời, danh sách tham gia nên có tính mở, để đáp ứng xu hướng mới như liên ngành, đa ngành.

Nhóm khối trường Sư phạm khẳng định sự cần thiết của chuẩn CTĐT trong việc tạo tiếng nói chung và tiếng nói pháp lý mạnh mẽ hơn đối với các trường đào tạo giáo viên. Đồng thời cho rằng, chuẩn CTĐT không nên quá sâu, vì có thể không theo kịp sự vận động liên tục của thực tiễn. Mức độ của chuẩn CTĐT chỉ cần dừng ở nhóm ngành đào tạo giáo viên chứ không nên đi vào môn học. Bên cạnh đó, tham gia xây dựng chuẩn CTĐT cần có 8 trường đại học chủ chốt đang đào tạo giáo viên.

Đề xuất của các nhà khoa học và đại diện từ các cơ sở GDĐH và các bên liên quan; Kết quả nghiên cứu kinh nghiệm triển khai xây dựng chuẩn CTĐT của các nước và điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam; Xem xét nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ này khả thi, bền vững là những căn cứ để Bộ GDĐT xem xét, ban hành kế hoạch và hệ thống các văn bản, tài liệu hướng dẫn triển khai xây dựng chuẩn chương trình và thực hiện VQF với lộ trình phù hợp, hiệu quả.

Ngày 18/10/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1982/QĐ-TTg về việc phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Để thực hiện VQF, ngày 30/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 436/QĐ-TTg giao Bộ GDĐT chủ trì, phối hợp với các bên liên quan triển khai xây dựng, ban hành chuẩn CTĐT đối với các ngành, nhóm ngành theo từng lĩnh vực đào tạo của GDĐH.

Quá trình xây dựng khung trình độ quốc gia và chuẩn bị xây dựng chuẩn CTĐT đã và đang nhận được sự hỗ trợ, tư vấn của Đại sứ quán Australia và Chương trình Australia cùng Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực (Chương trình Aus4Skills).

Tại tọa đàm, bà Bridget Collier, Tham tán Chính trị, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam cho biết, mối quan tâm và cam kết hỗ trợ GDĐT và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam của Australia mang tính dài hạn và bền vững. 

 

Trung tâm Truyền thông Giáo dục

In trang