Vụ trưởng vụ Giáo dục Đại học lý giải việc sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm

Bà Nguyễn Thị Kim Phụng, vụ trưởng vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD&ĐT cho rằng: “Việc sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm không phải chỉ xảy ra ở nước ta mà ngay những nước phát triển có nền giáo dục chất lượng cao sinh viên ra trường cũng có thể không tìm được việc làm. Thị trường việc làm không phải do cơ sở đào tạo quyết định mà phụ thuộc nhiều vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nói như vậy không phải tất cả đều là nguyên nhân khách quan, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhìn nhận một số nguyên nhân chủ quan, là trách nhiệm của ngành Giáo dục. Để giải quyết việc làm cho lao động đã được đào tạo nhưng chưa có việc làm, Bộ đang chủ trương xây dựng chương trình đào tạo bằng hai cho những sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm”.

Truyền hình Quốc hội có cuộc trao đổi với vụ trưởng vụ Giáo dục Đại học Nguyễn Thị Kim Phụng về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực.

* Thưa bà, các chuyên gia dự báo năm 2017 sẽ có hơn 200.000 cử nhân thất nghiệp. Theo bà, đây là số liệu cho 1 năm hay là từ những năm trước cộng dồn lại? Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này?

Tôi chưa rõ các chuyên gia đưa ra dự báo trên dựa vào cơ sở và trong phạm vi nào; tuy nhiên, các Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam hàng quý là kết quả thống kê xác suất những người có trình độ từ đại học trở lên trong độ tuổi lao động (15-60) không có việc làm ở thời điểm thống kê; không phải là số sinh viên mới tốt nghiệp ra trường không có việc làm. Ví dụ, Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam số 12, quí IV/20161, tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm có trình độ đại học trở lên là 218.800 người có nghĩa là: trong Quý IV/2016, ở Việt Nam có khoảng 218 ngàn lao động không có việc làm trong số khoảng gần 5 triệu lao động có trình độ đại học trở lên trong nhóm tuổi từ 15 đến 60. Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp của đối tượng này ở mức dưới 5%. Hiện nay, Bộ GD&ĐT đang hướng dẫn các trường thống kê số sinh viên có việc làm sau 1 năm tốt nghiệp

Việc sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm không phải chỉ xảy ra ở nước ta mà ngay những nước phát triển có nền giáo dục chất lượng cao sinh viên ra trường cũng có thể không tìm được việc làm. Thị trường việc làm không phải do cơ sở đào tạo quyết định mà phụ thuộc nhiều vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, thị trường việc làm còn phụ thuộc sự biến động của nền kinh tế thế giới.

Cùng quy mô đào tạo, nếu thu hút đầu tư tốt thì có thể xảy ra tình trạng thiếu lao động; nếu thu hút đầu tư không tốt thì dư thừa lao động và ngược lại, lao động tốt (cùng với chính sách tốt, hạ tầng tốt, tiêu thụ tốt…) lại là một trong các điều kiện để thu hút đầu tư…

Nói như vậy không phải tất cả đều là nguyên nhân khách quan, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhìn nhận một số nguyên nhân chủ quan, là trách nhiệm của ngành Giáo dục như sau:

- Một thời gian dài, nước ta đề ra mục tiêu đạt tỷ lệ 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020” theo Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ để ngang bằng với tỷ lệ sinh viên của các nước trong khu vực dẫn đến: Số lượng các trường và quy mô đào tạo tăng nhanh nhưng các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa được quan tâm tương xứng; ở một số cơ sở đào tạo, quy mô tuyển sinh và chất lượng đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu TTLĐ.

- Quản lý giáo dục chưa hiệu quả, chậm triển khai hệ thống kiểm định, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học; chậm ban hành khung trình độ quốc gia tương thích với khung trình độ tham chiếu của khu vực để làm cơ sở xây dựng chuẩn đầu ra phù hợp để sinh viên tốt nghiệp có tính cạnh tranh trên thị trường lao động (văn bản này mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 10 năm 2016).

- Sinh viên chưa được rèn luyện kỹ năng khởi nghiệp, tự tạo việc làm cho mình và cho người khác. Sinh viên tốt nghiệp hiện nay vẫn hướng đến tìm việc làm có sẵn tại các cơ quan, doanh nghiệp mà ít quan tâm đến khởi nghiệp. Trình độ ngoại ngữ thấp là một trong những nguyên nhân làm cho sinh viên tốt nghiệp khó tìm được việc làm trong thời kỳ hội nhập.

- Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra nhanh chóng. Xu hướng là các ngành nghề truyền thống không còn sử dụng nhiều lao động mà thay thế vào đó là máy móc tự động và robot có thể kết nối vạn vật để thay thế con người. Chương trình đào tạo ở nhiều trường vẫn theo hướng đơn ngành, thiết kế chi tiết, kĩ thuật mà không đi sâu vào những nguyên lý cơ bản mang tính quy luật (nắm được “dĩ bất biến”) để từ đó có thể áp dụng vào môi trường lao động đang biến đổi nhanh chóng (để “ứng vạn biến”). Do đó, sinh viên tốt nghiệp ở nước ta gặp khó khăn khi phải thích nghi với môi trường làm việc...

Nhận biết được điều này trong quá trình thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo, Bộ GD&ĐT đã giao cho các trường tự chủ xây dựng chương trình đào tạo một cách linh hoạt trên cơ sở tham khảo chương trình đào tạo của các nước phát triển. Bộ cũng khuyến khích các trường xây dựng các chương trình hợp tác đào tạo song phương với các trường đại học nước ngoài; xây dựng các chương trình đào tạo tiên tiến để cập nhật thường xuyên tiến bộ của ngành cho phù hợp với cuộc cách mạng công nghiệp mới.

Để giải quyết việc làm cho lao động đã được đào tạo nhưng chưa có việc làm, Bộ đang chủ trương xây dựng chương trình đào tạo bằng hai cho những sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm. Ví dụ, tăng cường đào tạo bằng hai đối với ngành công nghệ thông tin, ngành đang có nhu cầu nhân lực lớn hiện nay.

Nói chung không phải chỉ trình độ đại học mà tất cả các chương trình đào tạo nhân lực cần phải được thay đổi dựa trên nền tảng phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

*  Trước khi tuyển sinh đào tạo vào các trường đại học, cao đẳng, tại nhiều nước trên thế giới, ngành lao động thường có điều tra khảo sát nhu cầu việc làm tại các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, sau đó họ sẽ phối hợp với ngành giáo dục để xác định nhu cầu đào tạo. Vậy ở Việt Nam, quy trình này được tiến hành như thế nào? 

Quy trình khảo sát, dự báo ở các nước có thể thực hiện như trên, có thể được các cơ quan, tổ chức độc lập, chuyên nghiệp thực hiện để người dân tham khảo, nhà nước xây dựng các chính sách và các trường có kế hoạch đào tạo phù hợp... Ở Việt Nam, ngành GD&ĐT chưa nhận được sự phối hợp như vậy.

Trong phạm vi quản lý của mình, Bộ GD&ĐT đã quy định: việc mở ngành của các cơ sở đào tạo phải phù hợp với nhu cầu nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng, cả nước cũng như của từng lĩnh vực; khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh phải cân đối xác định quy mô đào tạo của các ngành nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội… Tuy nhiên, trong thực tế, nếu từng cơ sở đào tạo đều thực hiện điều tra, khảo sát nhu cầu thì hiệu quả thấp do không đủ nguồn lực (chủ yếu là nhân lực được đào tạo bài bản và tài chính) để đầu tư cho việc khảo sát, phân tích trên diện rộng. Vì vậy, nếu việc khảo sát nhu cầu được cơ quan chức năng hoặc được các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện trên bình diện rộng để các cơ sở đào tạo sử dụng xác định ngành nghề, quy mô tuyển sinh thì sẽ hiệu quả hơn.

* Ngoài vấn đề thiếu dự báo chính xác về nhu cầu nguồn nhân lực, thì ý kiến các chuyên gia cũng cho rằng chương trình đào tạo chậm đổi mới, không đáp ứng được với nhu cầu hội nhập. Vậy tới đây, chương trình giáo dục đại học sẽ theo hướng tiếp cận như thế nào, thưa ?

Về chương trình đào tạo thường có ba hướng tiếp cận chính : (1) tiếp cận nội dung ; (2) tiếp cận mục tiêu và (3) tiếp cận phát triển.

Chúng ta đang chuyển hướng từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận phát triển; theo đó, giáo dục đào tạo được coi là quá trình phát triển còn chương trình đào tạo là bản thiết kế tổng thể cho quá trình phát triển đó. Bản thiết kế này thường bao gồm: toàn bộ nội dung giáo dục, những điều có thể mong đợi ở người học sau khóa học – còn gọi là chuẩn đầu ra, quy trình cần thiết để thực hiện nội dung giáo dục, các phương pháp giáo dục và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập… được sắp xếp theo một kế hoạch - thời gian biểu chặt chẽ để đạt được chuẩn đầu ra.

Luật Giáo dục đại học đang quy định về chương trình đào tạo theo cách tiếp cận này và NQ29 cũng chỉ rõ nhiệm vụ “Rà soát, điều chỉnh chương trình giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu về chất lượng đào tạo và nhân lực của từng ngành, nghề, địa phương, toàn xã hội theo hướng tăng cường năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội”. Đó cũng là xu hướng tiếp cận chung trên thế giới.

Theo đó, việc thiết kế chương trình đào tạo được chuyển hướng từ tiếp cận lấy người dạy làm trung tâm (thầy dạy những gì mình có), sang tiếp cận lấy người học – việc học làm trung tâm (dạy những gì người học cần, với mục đích đạt được chuẩn đầu ra cho người học, đáp ứng yêu cầu của các vị trí việc làm trên thị trường lao động).

Đặc biệt, khi phát triển chương trình đào tạo, các trường cần căn cứ vào nhu cầu xã hội về nghề nghiệp (khảo sát, dự báo, yêu cầu của thị trường lao động thông qua sự tham gia của người sử dụng lao động và hiệp hội nghề nghiệp…) để xác định các khối kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và chịu trách nhiệm mà người học đạt được. Phương pháp xây dựng chương trình cũng phải được cải tiến theo các cách tiếp cận mới của CDIO, hoặc theo định hướng ứng dụng POHE.

Thực hiện nhiệm vụ này, các cơ sở giáo dục đại học cần quyết tâm xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận phát triển. Cùng với đó, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo sau khi được phê duyệt phải được công khai cho sinh viên, phụ huynh, các bên liên quan khác cũng như toàn xã hội được biết và coi đó là tuyên bố cam kết của nhà trường đối với người học khi họ tốt nghiệp. Hàng năm, các trường phải khảo sát việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp và coi đó là một căn cứ để điều chỉnh, hoàn thiện chương trình và xác định quy mô đào tạo.

Chương trình đào tạo cũng phải được kiểm định và công khai kết quả kiểm định, công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng của chương trình (giảng viên, cơ sở vật chất)…

Với cách tiếp cận như vậy, các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam sẽ từng bước khẳng định thương hiệu của mình thông qua các sản phẩm đầu ra, góp phần bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực theo yêu cầu của thị trường lao động.

Xin trân trọng cảm ơn bà!