Nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chính thức ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ (Thông tư 08/2017-TT-BGDĐT ngày 4/4/2017). Quy chế có hiệu lực từ 20 tháng 5 năm 2017 thay thế quy chế ban hành năm 2009 và được sửa đổi, bổ sung năm 2012 với mục đích nâng cao chất lượng đào tạo trình độ tiến sĩ, tạo điều kiện hội nhập với đào tạo trình độ tiến sĩ của khu vực và thế giới; giảm thiểu thủ tục hành chính; phát huy quyền tự chủ của các cơ sở đào tạo tiến sĩ căn cứ vào điều kiện đặc thù của từng trường và từng ngành; tăng cường trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch toàn bộ quá trình đào tạo tiến sĩ của cơ sở đào tạo nhằm tạo lập niềm tin của xã hội, của nhà tuyển dụng, người sử dụng lao động về chất lượng đào tạo tiến sĩ. Nội dung đổi mới của Quy chế tập trung vào một số điểm chính như sau:

1) Nâng cao quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo tiến sĩ

Quy chế quy định thủ trưởng cơ sở đào tạo tiến sĩ được quyết định lựa chọn phương thức tuyển sinh phù hợp (thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp cả hai phương thức), được quyết định số lần tuyển sinh trong năm, cũng như chi tiết hóa những quy định khung khác (về thủ tục và quy trình đánh giá luận án các cấp, cấp bằng,…) của Quy chế trong việc tổ chức đào tạo tiến sĩ tại cơ sở. 

2) Chuẩn hóa các quy định về ngoại ngữ và công bố khoa học

Quy chế chuẩn hóa những quy định về trình độ ngoại ngữ (sử dụng các chứng chỉ đánh giá ngoại ngữ được quốc tế công nhận như IELTS, TOEFL,…) đối với người dự tuyển, minh chứng về kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu khoa học (sử dụng các bài báo trong danh mục tạp chí ISI hoặc các tạp chí uy tín của nước ngoài trong lĩnh vực chuyên môn) đối với người hướng dẫn, thành viên của hội đồng đánh giá luận án, của nghiên cứu sinh ở mức độ được coi là cao hơn những quy định trước đây và có tính hội nhập với giáo dục đại học của khu vực và thế giới.

3) Thay đổi và nâng cao một số quy định đối với người hướng dẫn

Ngoài việc phải đáp ứng quy định về việc công bố bài báo/công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí quốc tế, Quy chế quy định người hướng dẫn phải đã hoặc đang chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở trở lên. Người hướng dẫn độc lập phải là cán bộ cơ hữu của cơ sở đào tạo hoặc là nhà khoa học người nước ngoài, nhà khoa học Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài có hợp đồng giảng dạy, nghiên cứu khoa học với cơ sở đào tạo. Mỗi nghiên cứu sinh sẽ có tối đa hai người hướng dẫn, trong đó ít nhất phải có một người là giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của cơ sở đào tạo. Tiêu chuẩn người hướng dẫn chính và người hướng dẫn phụ cũng được quy định rõ trong trường hợp đồng hướng dẫn. 

Quy chế cũng đã bổ sung việc người hướng dẫn có thể được tham gia Hội đồng đánh giá luận án cấp trường/viện trong trường hợp cần thiết để tạo điều kiện cho nghiên cứu sinh và thầy hướng dẫn được bảo vệ các quan điểm khoa học, tăng tính khách quan, đặc biệt đối với những đề tài có ít chuyên gia có uy tín, đồng thời gắn trách nhiệm của người hướng dẫn và hội đồng đánh giá luận án ở cấp cao nhất về nội dung luận án khi có khiếu kiện về vi phạm bản quyền tác giả.

4) Thay đổi về thời gian đào tạo tiến sĩ

Tổng thời gian đào tạo tiến sĩ trong Quy chế được quy định theo Luật giáo dục đại học, phù hợp với Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1981/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2016, đảm bảo nghiên cứu sinh hoàn thiện khối lượng học tập tối thiểu và chuẩn đầu ra đạt Bậc 8 của Khung trình độ quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ (thời gian đào tạo tiến sĩ vẫn là 3 - 4 năm tùy từng đối tượng đã có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học), tuy nhiên, nghiên cứu sinh chỉ được phép gia hạn tối đa 02 năm và trong thời gian gia hạn phải theo học tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo.       

5) Có lộ trình áp dụng quy định về công bố quốc tế đối với người hướng dẫn và nghiên cứu sinh ở các lĩnh vực khác nhau

Để đảm bảo cho những cá nhân có mong muốn theo học ở trình độ tiến sĩ có thời gian chuẩn bị về chuyên môn và ngoại ngữ cũng như các cơ sở đào tạo tiến sĩ phải có hướng đầu tư các điều kiện đảm bảo chất lượng (về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực) thực hiện những thay đổi nói trên, Quy chế đào tạo tiến sĩ mới có điều khoản chuyển tiếp quy định lộ trình công bố quốc tế đối với người hướng dẫn và nghiên cứu sinh theo hai giai đoạn: từ khi quy chế có hiệu lực đến hết 31/12/2018 và từ sau ngày 01/01/2019 đối với những nhóm ngành có tính hội nhập cao và với nhóm chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố kính tế, chính trị, văn hoá và xã hội đặc thù của Việt Nam. Cụ thể:

- Đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2018, quy định về tiêu chuẩn người hướng dẫn nghiên cứu sinh thuộc Nhóm ngành I (Nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội và hành vi,...) được thay thế 01 bài ISI bằng 01 bài báo bằng tiếng nước ngoài đăng trên các tạp chí thuộc danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước hoặc trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh; nghiên cứu sinh thực hiện những đề tài thuộc nhóm ngành nói trên phải công bố nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án trong tối thiểu 01 bài báo bằng tiếng nước ngoài trên các tạp chí thuộc danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước hoặc trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài.

Việc áp dụng lộ trình này sẽ tạo điều kiện cho người hướng dẫn và nghiên cứu sinh thực hiện những đề tài trong lĩnh vực có tính hội nhập chưa cao có đủ thời gian cũng như năng lực để đảm bảo đến thời điểm nhất định sẽ đạt chất lượng tiệm cận với chất lượng đào tạo của những chương trình tiên tiến trong khu vực và thế giới.

Quy chế tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ có nhiều điểm mới mang tính đột phá trong đào tạo trình độ tiến sĩ, vì vậy các cơ sở đào tạo cần phải thay đổi nhận thức và tư duy. Cần phải khẳng định đào tạo tiến sĩ là bậc đào tạo cao nhất trong giáo dục đại học, là đào tạo tinh hoa, đào tạo những nhà khoa học, những nhà nghiên cứu, do đó phải chuẩn từ chất lượng đầu vào, đảm bảo cơ chế thải loại trong quá trình đào tạo và đạt chuẩn chất lượng chất lượng đầu ra cũng như phải có tính hội nhập trong bối cảnh thế giới hiện nay. Việc chuyển từ đào tạo theo số lượng sang chú trọng chất lượng sẽ tạo ra nhiều thách thức, đặc biệt khi trình độ và chất lượng đào tạo giữa các cơ sở, các lĩnh vực đào tạo chưa đồng đều. Chính vì vậy, các cơ sở đào tạo tiến sĩ cần chủ động xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh, người hướng dẫn trong việc công bố quốc tế, gắn các đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh và thầy hướng dẫn với đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, đồng thời tăng cường sự hợp tác giữa cơ sở đào tạo tiến sĩ - viện nghiên cứu và doanh nghiệp để hỗ trợ những nghiên cứu đặt hàng và chuyển giao công nghệ.